Kết quả nghiên cứu tư duy trực quan sơ đồ của trẻ

.4. Kết quả nghiên cứu

2.4.1. Kết quả nghiên cứu lý luận:

Đến giai đoạn 5-6 tuổi, ở trẻ xuất hiện một loại hình tư duy trực quan hình tượng mới

  • đó chính là tư duy trực quan sơ đồ. Tư duy trực quan sơ đồ là một quá trình tư duy trong đó

nhiệm vụ trí tuệ được thực hiện bằng các thao tác bên trong với các sơ đồ hình thành các chức năng kí hiệu tượng trưng, phản ánh những mối liên hệ tồn tại khách quan của sự vật hiện tượng trong không gian.

Tư duy trực quan sơ đồ là loại tư duy trung gian để chuyển từ tư duy trực quan hình tượng lên kiểu tư duy mới khác về chất – tư duy logic.

nghiên cứu tư duy trực quan sơ đồ của trẻ

2.4.2. Kết quả nghiên cứu thực trạng mức độ phát triển tư duy trực quan sơ đồ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường MNBS và trường MNBCBT, TP.HCM

2.4.2.1. Kết quả mức độ tư duy trực quan sơ đồ của trẻ 5 – 6 tuổi tại trường MNBS và trường MNBCBT, TP.HCM

Sau khi cho trẻ thực hiện trắc nghiệm L.A. Venger và quan sát, phỏng vấn trẻ trong quá trình làm trắc nghiệm để loại bỏ những đáp án mang tính chọn lựa ngẫu nhiên của trẻ (Những đáp án được xem là chọn lựa ngẫu nhiên của trẻ là những đáp án mà trẻ có được là do chọn đại, chọn theo bạn mà không hề dựa vào “chìa khóa” của sơ đồ hoặc chỉ dựa vào mốc định hướng cuối cùng của “chìa khóa”. Ví dụ như ở bài tập số 5, hễ trẻ thấy ở ngôi nhà nào có hàng rào là trẻ chọn hoặc bài tập 6, trẻ thấy ngôi nhà nào có trái táo là trẻ chọn chứ trẻ không bắt đầu từ mốc định hướng đầu tiên của “chìa khóa”), người nghiên cứu thu được kết quả sau:

Bảng 2.4.1: Điểm TB 10 bài trắc nghiệm của mỗi trẻ

N Điểm TB ĐLTC
Tổng 100 25.91 8.91

Theo bảng 2.4.1, ta thấy điểm TB 10 bài tập của mỗi trẻ là 25.91. Như vậy, trẻ 5 – 6 tuổi ở trường MN có tư duy trực quan sơ đồ ở đầu mức độ 4 nghĩa là trẻ chỉ có thể dựa vào 1 dấu hiệu để giải quyết bài tập tư duy trực quan sơ đồ chứ chưa có khả năng định hướng được theo hai dấu hiệu, trẻ giải quyết được các bài tập từ 1 đến 6, còn các bài tập còn lại trẻ chỉ làm được phần đầu và chỉ tính được một hoặc hai phần của mỗi sơ đồ khóa, nhưng đến cuối thì trẻ cũng chỉ dựa vào một dấu hiệu. Kết quả này phù hợp với giả thuyết ban đầu của người nghiên cứu. Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tư duy trực quan sơ đồ của trẻ từ phía giáo viên, người nghiên cứu nhận thấy hầu hết giáo viên ở hai trường này chưa có cơ sở lý luận về tư duy trực quan sơ đồ của trẻ và chưa đưa sự phát triển tư duy trực quan sơ đồ của trẻ vào mục tiêu dạy học nên trong bài dạy không chú ý đến vấn đề phát triển tư duy trực quan sơ đồ cho trẻ . Chính vì vậy mà trong các tiết học của trẻ mà người nghiên cứu đã tham dự, thay vì có thể lồng ghép nội dung phát triển TDTQSĐ cho trẻ thì các giáo viên đã bỏ qua. Điển hình như trong bài “Cả nhà thương nhau”, giáo viên có thể lồng ghép nội dung TDTQSĐ bằng cách xây dựng các biểu tượng và vẽ một sơ đồ chỉ dẫn đường đến nhà “tiến sĩ mặt trời”… Và sự thiếu hụt tri thức về TDTQSĐ của các giáo viên ở trường mầm non còn được thể hiện rõ qua các câu trả lời của giáo viên khi được phỏng vấn như: “Tư duy trực quan sơ đồ của trẻ phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố nào?” thì một số giáo viên trả lời là “phụ thuộc vào tư duy của trẻ”, có người lại cho rằng tư duy trực quan sơ đồ của trẻ “phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố ghi nhớ có chủ định của trẻ” và còn có giáo viên trả lời rằng “tư duy trực quan sơ đồ của trẻ phụ thuộc vào chính năng lực của đứa trẻ”; “phụ thuộc vào yếu tố thi đua”… hoặc khi được hỏi về “những biện pháp mà nhà trường đã sử dụng để phát triển tư duy trực quan sơ đồ cho trẻ?” thì câu trả lời là “cung cấp kiến thức để trẻ tiếp thu tự nhiên qua hoạt động chung và hoạt động vui chơi”; có giáo viên lại trả lời là “Những câu hỏi mở” và một số giáo viên thì trả lời rằng “thông qua các hoạt động vui chơi của trẻ” mà trẻ có thể phát triển tư duy trực quan sơ đồ… Và khi được đề nghị đề xuất ý kiến nhằm giúp trẻ phát triển TDTQSĐ thì các giáo viên cũng thừa nhận rằng: do các chương trình giáo dục mầm non chưa thực sự đưa nội dung này (TDTQSĐ) vào chương trình nên giáo viên ít có hiểu biết và nghèo nàn về các bài tập, trò chơi do vậy cần bồi dưỡng thêm cho giáo viên và cung cấp một số bài tập cho giáo viên để họ có cơ sở thực hiện. Mặc dù vậy, nhưng ngẫu nhiên trong các trò chơi mà người nghiên cứu quan sát được ở các góc hoạt động của trẻ lại có thể giúp trẻ phát triển tư duy trực quan sơ đồ như trò chơi “bàn cờ thông minh”, “tìm đường ngắn nhất” hoặc trò chơi xây dựng chẳng hạn (xem phụ lục 1.5) cho nên tư duy trực quan sơ đồ của trẻ đạt ở đầu mức độ 4. Thiết nghĩ, nếu giáo viên chú ý phát triển tư duy trực quan sơ đồ cho trẻ thì có thể trẻ sẽ giải quyết được tất cả các bài tập, tức trẻ có thể dựa vào hai dấu hiệu để giải quyết bài tập tư duy trực quan sơ đồ.

Sự phân phối điểm TB của trẻ được thể hiện ở biểu đồ 2.4.1 sau:

Điểm TB

Biểu đồ 2.4.1: Biểu đồ phân phối điểm TB 10 bài trắc nghiệm của trẻ

Theo biểu đồ 2.4.1, ta thấy: điểm số của tất cả các bài tập từ 1 đến 8 đều trên TB. Các bài tập 3, 4, 5 có điểm trung bình cao hơn bài tập 1 và 2. Điều này cho phép chúng ta khẳng định rằng trẻ 5 – 6 tuổi ở hai trường này vẫn chưa có khả năng định hướng trong không gian một cách chính xác và khả năng sử dụng các mốc định hướng của trẻ tốt hơn khả năng định hướng trong không gian. Ở bài tập 6 và 7, điểm TB của trẻ thấp là do trẻ đã xác định được hướng đi và mốc đầu tiên trong sơ đồ nhưng trẻ chưa có cái nhìn bao quát để thấy được sự luân chuyển từ vật định mốc này sang vật định mốc kia, đâu là mốc định hướng chính, đâu là mốc định hướng phụ như đã xác định ở trên khóa. Bài tập 9 và 10 có điểm TB thấp là do phần lớn trẻ chưa nhận ra sự tương quan một cách chi tiết giữa sơ đồ lớn và chìa khóa dựa trên hai dấu hiệu: Mốc và hướng.

Bảng 2.4.2: Phân tích mức độ tư duy trực quan sơ đồ của trẻ ở hai trường MNBS và MNBCBT

 

Điểm Mức độ N %
Từ 0 đến 5 1 0 0
Từ 6 đến 14 2 14 14
Từ 15 đến 24 3 23 23
Từ 25 đến 34 4 46 46
Từ 35 đến 44 5 17 17
Tổng N 100 100

Sự phân phối mức độ tư duy trực quan sơ đồ của trẻ được thể hiện ở biểu đồ 2.4.2 sau:

Biểu đồ 2.4.2: Biểu đồ phân phối mức độ tư duy trực quan sơ đồ của trẻ

Theo bảng 2.4.2 và biểu đồ 2.4.2, ta thấy: không có trẻ nào có tư duy trực quan sơ đồ ở mức độ 1. Như vậy, tất cả các trẻ đều đã có thể xác định được hướng. Có 14 trẻ, chiếm 14% có tư duy trực quan sơ đồ ở mức độ 2 nghĩa là trẻ đã có khả năng giải quyết bài tập theo một dấu hiệu, trẻ đã biết phân bài tập ra từng giai đoạn. Ở mỗi chỗ rẽ, trẻ đã biết chú ý đến dấu hiệu của hướng đi, mốc định hướng đã có sẵn trong chìa khóa. Tuy nhiên, trẻ chỉ sử dụng phương thức này ở giai đoạn đầu của bài tập chứ chưa có khả năng duy trì đến cuối bài tập. Trẻ ở nhóm này đã xuất hiện khả năng xác định sự tương quan giữa chìa khóa và sơ đồ nhưng còn rời rạc, hỗn đồng. Có 23 trẻ, chiếm 23% có tư duy trực quan sơ đồ ở mức độ 3 nghĩa là trẻ có khả năng sử dụng mốc định hướng và duy trì từ đầu đến cuối mối tương quan giữa chìa khóa và sơ đồ, trẻ chỉ giải quyết được các bài tập từ 1 đến 6, các bài tập còn lại trẻ chưa thể giải quyết. Trẻ ở nhóm này chưa giải quyết được những bài tập đòi hỏi phải dựa vào hai tham số.

Trẻ có tư duy trực quan sơ đồ ở mức độ 4 chiếm tần suất rất cao: có đến 46 trẻ, chiếm 46%, nghĩa là trẻ vẫn chưa có khả năng định hướng được theo hai dấu hiệu, trẻ giải quyết tốt các bài tập từ 1 đến 6, còn các bài tập còn lại trẻ chỉ làm được phần đầu và chỉ tính được một hoặc hai phần của mỗi sơ đồ khóa, nhưng đến cuối thì trẻ cũng chỉ dựa vào một dấu hiệu.

Có 17 trẻ, chiếm 17% có tư duy trực quan sơ đồ ở mức độ 5: nghĩa là trẻ đã nhận ra sự tương quan một cách chi tiết giữa sơ đồ lớn và chìa khóa dựa trên hai dấu hiệu: Mốc và hướng. Trẻ giải quyết được tất cả các bài tập. Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến tư duy trực quan sơ đồ của 17 trẻ này từ phía phụ huynh trẻ thì hầu hết đều trả lời là không có nhiều thời gian để chơi với bé nhưng mua rất nhiều đồ chơi cho bé đại loại như banh, ghép hình, dụng cụ vẽ tranh… để bé chơi mà thời gian chơi của bé cũng rất ít, khoảng 15 đến 30 phút, chủ yếu là các bé chơi ở trên trường. Như vậy, tư duy trực quan sơ đồ của trẻ phụ thuộc chủ yếu vào môi trường, điều kiện vui chơi và học tập. Từ kết quả trên cho ta rút ra kết luận: Hầu hết trẻ chưa thể dựa vào 2 dấu hiệu để giải quyết bài tập tư duy trực quan sơ đồ mà chỉ dựa vào một dấu hiệu để giải quyết được bài tập tư duy trực quan sơ đồ. Tuy nhiên, từ kết quả trên cũng cho ta thấy, trẻ đã manh nha khả năng dựa vào 2 kí hiệu để giải quyết bài tập tư duy trực quan sơ đồ vì vậy nếu nhà trường tổ chức để phát triển tư duy trực quan sơ đồ cho trẻ một cách khoa học thì trẻ sẽ có thể dựa vào 2 dấu hiệu để giải quyết bài tập tư duy trực quan sơ đồ.

2.4.2.2. Kết quả đo nghiệm mức độ tư duy trực quan sơ đồ của trẻ theo trường (trường MNBS và trường MNBCBT)

Bảng 2.4.3. Điểm TB 10 bài trắc nghiệm của trẻ theo trường

 

Trường N Điểm TB ĐLTC t Sig
Tổng Bông Sen 50 22.00 8.30 -4.86 < 0,001(*)
Bến Thành 50 29.82 7.76

Chú thích: (*): Có ý nghĩa ở mức α = 0,05

Theo bảng 2.4.4, ta thấy: Điểm trung bình về mức độ tư duy trực quan sơ đồ của trẻ ở hai trường có sự chênh lệch rõ rệch: trẻ ở trường MNBS có điểm trung bình là 22 ở mức độ 3 tức trẻ có khả năng sử dụng mốc định hướng và duy trì từ đầu đến cuối mối tương quan giữa chìa khóa và sơ đồ, trẻ chưa giải quyết được các bài tập từ 7 đến 10. Trẻ ở nhóm này chưa giải quyết được những bài tập đòi hỏi phải dựa vào hai tham số.

Và trẻ ở trường MNBCBT có điểm trung bình là 29.82 ở mức độ 4 tức trẻ ở nhóm này vẫn chưa có khả năng định hướng được theo hai dấu hiệu, trẻ giải quyết tốt các bài tập từ 1 đến 6, còn các bài tập còn lại trẻ chỉ làm được phần đầu và chỉ tính được một hoặc hai phần của mỗi sơ đồ khóa, nhưng đến cuối thì trẻ cũng chỉ dựa vào một dấu hiệu.

ĐLTC tiêu chuẩn ở điểm số của trẻ trường MNBS cũng cao hơn ĐLTC tiêu chuẩn ở điểm số của trẻ trường MNBCBT. Sự chênh lệch này có ý nghĩa gì? Ta thấy sig < 0.001. Điều này chứng tỏ sự khác biệt trên là có ý nghĩa về mặt thống kê. Kết quả này phù hợp với giả thuyết ban đầu của người nghiên cứu. Nghiên cứu thực tế, người nghiên cứu nhận thấy rằng sự khác biệt này là có nguyên nhân. Thứ nhất, trẻ ở trường MNBCBT được học tập cũng như vui chơi trong điều kiện tốt hơn như: cơ sở vật chất tốt, đồ chơi nhiều, có các góc hoạt động rộng rãi và có thư viện riêng để đọc sách…được học và chơi một số môn mà ở trường MNBS không có như bơi lội, nhịp điệu, kidsmart… Thứ hai, gia đình của các em hầu hết đều khá giả và ở trung tâm TP.HCM nên điều kiện học tập của các em cũng được trang bị tốt hơn. Thứ ba, ở trường MNBCBT, các em học trên tầng 3 mà qua mỗi bậc cầu thang thì có dán (hoặc xây) các biểu tượng, hình ảnh về môi trường xung quanh và khi các em đi lên xuống cầu thanh nhiều lần như vậy sẽ hình thành trong đầu các em một sơ đồ (con đường) lên lớp một cách vô thức nhưng lại giúp ích cho tư duy sơ đồ của các em. Đặc biệt là trẻ ở trường MNBT được dạy dỗ, chăm sóc bởi đội ngũ giáo viên đều trên mười năm kinh nghiệm, trong khi đó, đội ngũ giáo viên khối lớp lá của trường MNBS đều dưới 10 năm kinh nghiệm.

Bảng 2.4.4. Phân phối mức độ tư duy trực quan sơ đồ của trẻ theo trường

Mức độ MNBS MNBCBT Tổng
Điểm
N % N % N %
Từ 0 đến 5 1 0 0 0 0 0 0
Từ 6 đến 14 2 1 1 11 3 3 14 14
Từ 15 đến 24 3 16 16 7 7 23 23
Từ 25 đến 34 4 20 20 26 26 46 46
Từ 35 đến 44 5 3 3 14 14 17 17
Tổng 50 50 50 50 50 100 100

Sự phân phối mức độ tư duy trực quan sơ đồ của trẻ ở trường MNBS và trường MNBCBT được thể hiện ở biểu đồ 2.4.3 và biểu đồ 2.4.4

Biểu đồ 2.4.3: Biểu đồ phân phối mức độ tư duy trực quan sơ đồ của trẻ trường MNBS

Biểu đồ 2.4.4: Biểu đồ phân phối mức độ tư duy trực quan sơ đồ của trẻ trường MNBCBT.

Theo bảng 2.4.4 và hai biểu đồ 2.4.3; 2.4.4, ta thấy trẻ ở trường MNBCBT có xu hướng vượt trội hơn so với trẻ ở trường MNBS. Ở mức độ 5 nghĩa là trẻ có khả năng giải quyết bài tập theo 2 dấu hiệu (bài tập 7 đến 10), trường MNBCBT có 14 trẻ trong khi ở trường MNBS chỉ có 3 trẻ. Ngược lại, ở mức độ 2, trẻ có thể dựa vào một dấu hiệu để giải quyết bài tập nhưng khả năng xác định sự tương quan giữa chìa khóa và sơ đồ nhưng còn rời rạc, hỗn đồng thì trường MNBS có đến 11 trẻ trong khi trường MNBCBT chỉ có 3 trẻ. Và có đến 80% trẻ ở trường MNBCBT có tư duy trực quan sơ đồ ở mức độ 4 và 5, trong khi đó chỉ có 46% trẻ ở trường MNBS có tư duy trực quan sơ đồ ở hai mức độ này.

2.4.2.3. Kết quả đo nghiệm mức độ tư duy trực quan sơ đồ của trẻ theo giới (nam và nữ)

Bảng 2.4.5. Điểm TB 10 bài trắc nghiệm của mỗi trẻ theo giới

Giới N Điểm TB ĐLTC t Sig
TỔng Nam 47 25.06 9.29 – 0.89 0.374
Nữ 53 26.66 8.75

Mức ý nghĩa α = 0,05

Theo bảng 2.4.5, ta thấy: Điểm trung bình về mức độ tư duy trực quan sơ đồ của trẻ nam và nữ chênh lệch không đáng kể và mức độ tư duy của cả hai phái đều nằm ở đầu mức độ 4, tức trẻ ở nhóm này vẫn chưa có khả năng định hướng được theo hai dấu hiệu, trẻ giải quyết tốt các bài tập từ 1 đến 6 còn các bài tập còn lại trẻ chỉ có thể làm được phần đầu và chỉ tính được một phần của mỗi sơ đồ khóa. ĐLTC tiêu chuẩn của điểm TB ở mỗi phái cũng không có sự chênh lệch nhiều. Ở cột sig, ta cũng thấy sự khác biệt này là không có ý nghĩa về mặt thống kê (sig = 0.374). Kết quả này không phù hợp với giả thuyết ban đầu của người nghiên cứu nhưng nó phù hợp với lý luận nghiên cứu. Vì tìm hiểu thực tế, ta thấy, trẻ 5 – 6 tuổi về mặt cấu trúc sinh học của não bộ mặc dù đã có đầy đủ các chức năng sinh lý của người nhưng nó vẫn chưa phát triển đến mức cao nhất và sự khác biệt về các yếu tố tâm lý cũng chưa nhiều, các em chưa đi vào từng lĩnh vực riêng biệt mà lại có chung một môi trường học tập và vui chơi nên không có sự chênh lệch nhiều về mức độ tư duy trực quan sơ đồ là hợp lý.

Bảng 2.4.6: Phân phối mức độ tư duy trực quan sơ đồ của trẻ theo giới

Điểm Mức độ Nam Nữ Tổng
N % N % N %
Từ 0 đến 5 1 0 0 0 0 0 0
Từ 6 đến 14 2 7 14.9 7 13.2 14 14
Từ 15 đến 24 3 l 1 23.4 12 22.6 23 23
Từ 25 đến 34 4 21 44.7 25 47.2 46 46
Từ 35 đến 44 5 8 17 9 16.7 17 17
Tổng N 47 100 53 100 100 100

Theo bảng 2.4.6, ta thấy: Sự khác biệt về tư duy trực quan sơ đồ giữa trẻ nam và trẻ nữ giữa hai trường MNBS và MNBCBT ở các mức độ là không đáng kể và tư duy trực quan sơ đồ của trẻ nam và nữ đều tập trung cao nhất ở mức độ 4.

 

15
Bảng 2.4.7: Điểm TB trắc nghiệm từng bài của trẻ theo giới
Phái Điểm TB Sig
Bài 1 Nam 2.55 .352
Nữ 2.33
Bài 2 Nam 2.57 .189
Nữ 2.96
Bài 3 Nam 3.04 .482
Nữ 3.24
Bài 4 Nam 2.70 .085
Nữ 3.26
Bài 5 Nam 3.04 .473
Nữ 3.24
Bài 6 Nam 2.43 .277
Nữ 2.75
Bài 7 Nam 2.04 .312
Nữ 2.30
Bài 8 Nam 3.10 .681
Nữ 3.00
Bài 9 Nam 1.91 .803
Nữ 1.81
Bài 10 Nam 1.65 .836
Nữ 1.73

Mức ý nghĩa α = 0,05

Theo bảng 2.4.7, ta thấy điểm TB của từng bài tập của trẻ nam so với trẻ nữ chênh lệch không nhiều . Ba bài tập mà có sự chênh lệch về điểm TB giữa trẻ nam và nữ nhiều nhất là bài tập 2, 4 và 6 nhưng số điểm chênh lệch cũng rất nhỏ, lần lượt là 0.39 điểm (nam: 2.57 điểm, nữ: 2.96 điểm) – 0.56 điểm (nam: 2.70 điểm, nữ: 3.26 điểm) – 0.32 điểm (nam: 2.43 điểm, nữ: 2.75 điểm). Các bài tập còn lại điểm số chênh lệch từ 0.1 điểm đến 0.26 điểm. Sự chênh lệch này, xét về mặt điểm số thì không đáng kể. Quan sát cột sig, ta thấy ở tất cả các bài tập thì sự khác biệt này cũng không có ý nghĩa về mặt thống kê (sig > 0.05).

Từ các kết quả trên, có thể khẳng định, mức độ phát triển tư duy trực quan sơ đồ của trẻ nam và nữ không có sự khác biệt.

2.4.2.4. Nguyên nhân thực trạng

Từ kết quả quan sát thực tế và điều tra từ phía 13 giáo viên và 17 phụ huynh học sinh cho phép người nghiên cứu đưa ra những kết luận về nguyên nhân dẫn đến thực trạng tư duy trực quan sơ đồ của trẻ 5 – 6 tuổi ở hai trường MNBS và MNBCBT như sau:

Phụ huynh của trẻ mầm non đa phần là còn trẻ và rất bận rộn nên không có thời gian hướng dẫn và vui chơi cùng trẻ cho nên đặt tất cả nhiệm vụ phát triển trí tuệ cho trẻ vào giáo viên ở trường mầm non. Điều này được thể hiện khi hỏi: ngoài thời gian trẻ chơi và học ở trường thì anh/chị thường cho trẻ chơi trò chơi gì? thì có đến 14 phụ huynh bảo là bé thích chơi cái gì thì để bé chơi, chơi chán thì bé chơi cái khác nhưng thời gian bé chơi ở nhà cũng rất ít. Những đồ chơi cho bé rất phong phú như banh, xe điện, búp bê, đồ bán hàng, xếp hình, tập tô màu… Những đồ chơi dành cho bé chưa được các phụ huynh xem xét, lựa chọn để giúp bé phát triển trí tuệ mà chỉ mua theo sở thích của các bé. Và khi được hỏi, những lúc bé chơi như vậy thì gia đình có chơi cùng bé không? thì phụ huynh trả lời rằng cũng có lúc chơi với bé nhưng thường thì gia đình chỉ xem ti vi chung hoặc trò chuyện với bé, nghe bé khoe về những cái học được ở trường… còn có nhiều thời gian một chút như chủ nhật thì hay dẫn bé đi công viên chơi. Cũng có trường hợp đặc biệt như trường hợp của bé Tăng N.A (bé đạt được 38 điểm) thì mẹ bé (chị Hoàng Thị K. N) cho biết bé rất thích vẽ, hầu như ngoài thời gian học và ngủ ra bé dành tất cả thời gian còn lại để vẽ và xem các chương trình dành cho trẻ em trên tivi như chuyện nhỏ, những em bé thông minh… hoặc như trường hợp của bé Phạm M. N (bé đạt được 42 điểm) chẳng hạn, mặc dù mẹ bé (chị Trần T. L) làm nội trợ nhưng cũng ít khi chơi với bé vì theo như chị kể thì thời gian ở nhà bé thường đi chơi ở “hàng xóm” nhiều hơn, nếu chơi ở nhà thì bé thường chơi xếp hình nhưng bé rất mau chán, khoảng 20 phút là lại đi chơi ở xóm. Duy nhất chỉ có trường hợp của bé Phạm Đ. T (là bé duy nhất đạt được tối đa 44 điểm) là phụ huynh có chú ý đến việc phát triển trí tuệ lẫn nhân cách cho bé. Chị Mai Thị H. T, mẹ của bé T cho biết là ba bé rất quan tâm đến việc mua đồ chơi cho bé, không bao giờ cho bé xem hoặc chơi các trò chơi mang tính khích động hay bạo lực như súng, kiếm, xe tăng… mà chỉ cho bé chơi trò chơi ghép hình và mua các đĩa kidsmart cho bé chơi mỗi lần bé chơi khoảng 30 phút. Ngoài ra thì cho bé xem chương trình “chuyện nhỏ”, “bí mật gia đình” và “tam sao thất bản”. Chị còn tiết lộ thêm là bé rất thích “đoán” trong trò chơi “tam sao thất bản”. Chủ nhật thì gia đình cùng bé đi công viên hoặc siêu thị. Bé T rất thích đi như vậy… Tuy nhiên, hầu hết phụ huynh thì không có thời gian hoặc không biết giúp bé phát triển tư duy. Nhưng vấn đề quan trọng là khi được hỏi: Trong những trò chơi mà anh/chị cho bé chơi thì anh chị thấy trò chơi nào sẽ giúp bé phát triển tư duy trực quan sơ đồ thì 100% phụ huynh được phỏng vấn đều hỏi ngược lại là “Tư duy trực quan sơ đồ là sao?”. Nhưng cũng từ thực tế nghiên cứu thì người nghiên cứu nhận thấy mặc dù có 76,9% giáo viên được phỏng vấn trả lời rằng “cần thiết” phải phát triển TDTQSĐ cho trẻ và 23,1% giáo viên được phỏng vấn trả lời rằng “rất cần thiết” phải phát triển TDTQSĐ cho trẻ nhưng trình độ hiểu biết về tư duy trực quan sơ đồ của các giáo viên ở hai trường này rất ít và nhà trường cũng chưa đưa nội dung phát triển tư duy trực quan sơ đồ cho trẻ vào mục tiêu dạy học nên chưa lồng ghép nội dung phát triển tư duy trực quan sơ đồ cho trẻ cũng như chưa đầu tư vào việc trang bị cơ sở vật chất (đồ chơi, đồ dùng học tập nhằm phát triển tư duy trực quan sơ đồ cho trẻ) và giáo viên cũng chưa biết thiết kế các trò chơi giúp trẻ phát triển tư duy trực quan sơ đồ. Chính vì vậy nên giáo viên cũng không hướng dẫn phụ huynh học sinh để họ biết lựa chọn đồ chơi cho trẻ và nên cho trẻ xem gì, chơi trò chơi gì?

Nhưng ngẫu nhiên trong các trò chơi ở hoạt động góc của trẻ lại giúp trẻ phát triển tư duy trực quan sơ đồ nên tư duy trực quan sơ đồ của trẻ đạt ở đầu mức độ 4. Như trong trò chơi “bàn cờ thông minh” thì trẻ biết được cách xác định hướng trên, dưới, phải, trái và đi theo sơ đồ được chỉ dẫn, và cũng trong trò chơi đó, trẻ biết dùng các vật (biểu tượng) tượng trưng thay thế cho vật thật. Hoặc như trong trò chơi “tìm đường ngắn nhất”

chẳng hạn, trong trò chơi này buộc trẻ phải xác định mối quan hệ không gian giữa các con số với nhau và giữa các con số với vật chuẩn (quà), và khi thực hiện trò chơi là lúc trẻ thiết lập một con đường (sơ đồ) để đi đến quà và trẻ phải xác định được con số “mốc” phải đi qua. Chính vì vậy mà nó góp phần giúp cho TDTQSĐ của trẻ phát triển.

Trẻ 5 – 6 tuổi ở trường MNBCBT có tư duy trực quan sơ đồ tốt hơn trẻ 5 – 6 tuổi ở trường MNBS phần lớn là do điều kiện vui chơi và học tập của các em tốt hơn trẻ ở trường MNBS. Ở trường MNBCBT, các bé được chơi ở phòng kidsmart và đồ chơi của các bé cũng nhiều hơn, không gian chơi rộng rãi nên bé có thể chơi thoả thích trong khi đó, ở trường MNBS, các bé muốn chơi trò chơi xây dựng nhưng cũng không đủ chỗ mà chơi, mặc dù “góc chơi” đã được lấn ra hành lang nhưng đang xây nửa chừng thì hết chỗ nên các bé phải “xây” vòng lại hoặc có khi đang xây thì một bé khác chạy vào là xem như xong. Ngoài ra, ở trường MNBCBT vì đầy đủ cơ sở vật chất nên môi trường xung quanh của các bé phong phú hơn, bên cạnh đó, các biểu tượng về các loại trái cây, vật dụng… được để ở các bậc cầu thang trong trường nên các bé có được nhiều hình ảnh và biểu tượng về những sự vật xung quanh hơn… chính những điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho TDTQSĐ của trẻ ở trường MNBCBT phát triển.

XEM TIẾP >>>

Theo: http://gianphoithongminhpro.org

Tải toàn bộ tài liệu tại link sau: >>>

nkkh_nghien_cuu_tu_duy_truc_quan_so_do_cua_tre_5_6_tuoi_o_mot_so_truong_mam_non_tai_thanh_pho_ho_chi_minh_4441

Chat Zalo
02485885585