Kết quả thực nghiệm nghiên cứu tư duy trực quan sơ đồ của trẻ

2.4.3. Kết quả thực nghiệm

2.4.3.1. Kết quả chung về thực nghiệm

Sau khi tiến hành cho 100 trẻ được chọn làm mẫu nghiên cứu thực trạng TDTQSĐ làm trắc nghiệm L.A. Venger và thu được kết quả như được trình bày ở phần 2.1, người nghiên cứu đã chọn 30 trẻ để tiến hành thực nghiệm hình thành. Qua gần 3 tháng tiến hành thực nghiệm người nghiên cứu cho 30 trẻ được chọn làm thực nghiệm thực hiện lại trắc nghiệm LA. Venger. Kết quả thu được như sau:

Kết quả thực nghiệm nghiên cứu tư duy trực quan sơ đồ

Bảng 2.4.8: Điểm trắc nghiệm của nhóm ĐC và nhóm TN

Nhóm Điểm trước TN Điểm sau TN
ĐC Điểm TB 28.33 29.13
ĐLTC 1.91 2.36
TN Điểm TB 28.27 34.93
ĐLTC 1.28 4.67

Sự phân phối điểm TB trắc nghiệm của trẻ ở nhóm ĐC và nhóm TN trước và sau TN được thể hiện ở biểu đồ 2.4.5 sau:

Biểu đồ 2.4.5: Biểu đồ điểm TB trắc nghiệm của trẻ ở nhóm ĐC và nhóm TN trước và sau TN

Theo bảng 2.4.8 và biểu đồ 2.4.5, ta thấy:

  • Trước thực nghiệm:

Căn cứ vào điểm số TB của nhóm ĐC và nhóm TN ta có điểm TB của nhóm ĐC là 28.33 và điểm TB của nhóm TN là 28.27; cũng như

ĐLTC tiêu chuẩn giữa 2 nhóm là tương đương nhau, không có sự chênh lệch đáng kể. Điều này cho thấy việc chọn mẫu TN mang tính khách quan.

* Sau thực nghiệm:

Căn cứ vào điểm số TB của nhóm ĐC và nhóm TN, ta thấy rõ nét sự khác biệt giữa nhóm ĐC so với nhóm TN. Cụ thể: Mặc dù điểm TB của cả 2 nhóm ĐC và TN sau thực nghiệm đều tăng nhưng điểm TB của nhóm ĐC sau thực nghiệm chỉ tăng 0.8 điểm (trước TN: 28.33 điểm; sau TN: 29.13 điểm). Người nghiên cứu cho rằng, sự tăng điểm số ở nhóm ĐC chỉ là vấn đề ngẫu nhiên xảy ra trong quá trình học tập và vui chơi của trẻ ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan bên ngoài vì điểm số tăng không đáng kể. Ở nhóm TN thì điểm TB tăng lên một cách đáng kể từ 28.27 điểm trước TN lên 34.93 điểm sau TN (tăng 6,66 điểm). Điều này cho ta thấy tính hiệu quả của quá trình TN. Tính hiệu quả của quá trình TN còn được thể hiện ở sự tương đồng về điểm số của trẻ đạt được trong quá trình TN với điểm số của trẻ sau TN trong bảng 2.4.9 sau:

Bảng 2.4.9: Điểm TB của trẻ trong quá trình TN và điểm sau khi TN

Tên trẻ Điểm TB trong quá trình TN Điểm sau khi TN
Nguyễn Thị Kim Y 1 1 34
Trần Thị Thúy V 12.3 36
Nguyễn Trọng H 13.5 40
Trần Hoàng Đ 8.5 28
Văn Bội H 11 32
Châu Khánh V 12.5 36
Hứa Bảo K 10.5 29
Hoàng Vĩnh Bảo H 12 30
Nguyễn Đỗ Trúc M 13.5 38
Trương Thị Hoài N 13 34
Nguyễn Mai Thành Đ 11.3 31
Lê Trung T 11.8 32
Vũ Thị Thu G 14.3 44
Nguyễn Lê Thu N 13 38
Cao Hoàng D 13 40

Theo bảng 2.4.9, ta thấy: trong quá trình thực nghiệm, trẻ nào đạt được nhiều điểm thì kết quả bài trắc nghiệm sau thực nghiệm của trẻ càng cao.

2.4.3.2. Mức độ tư duy trực quan sơ đồ của trẻ ở nhóm ĐC và nhóm TN

Bảng 2.4.10: Phân phối mức độ tư duy trực quan sơ đồ của trẻ ở nhóm ĐC và nhóm TN

 

Nhóm ĐC Nhóm TN Tổng
N % N % N %
Từ 24 đến 34 4 15 100 8 56.25 23 76.7
Từ 35 đến 44 5 0 0 7 43.75 7 23.3
Tổng 15 100 15 100 40 100

Theo bảng 2.4.10, ta thấy sau khi thực nghiệm, tất cả các trẻ ở nhóm ĐC đều vẫn ở mức độ 4. Trong khi đó, có đến 7 trẻ, chiếm 43.75% trẻ ở nhóm TN sau khi TN đã có tư duy trực quan sơ đồ ở mức độ 5, nghĩa là trẻ đã dựa vào 2 dấu hiệu để giải quyết bài tập tư duy sơ đồ (trẻ giải quyết được một phần hoặc toàn bộ bài tập 9 và 10). Và 8 trẻ còn lại trong nhóm TN có tư duy trực quan sơ đồ ở mức độ 4 nhưng điểm số đã cao hơn so với trước khi thực nghiệm (điểm TB trước khi TN: 28; điểm TB sau khi TN: 31.25 ). Kết quả trên đã chứng minh cho tính khả thi của quá trình thực nghiệm.

2.4.3.3. Kết quả kiểm nghiệm t so sánh trước và sau thực nghiệm của 2 nhóm ĐC và nhóm TN

Bảng 2.4.11: Kết quả kiểm nghiệm t của nhóm ĐC và nhóm TN

Nhóm Hiệu số 2 ĐLTC t Sig
điểm TB
Trước TN: 28.33 -0.8 1.57 -1.98 0.068
Điểm sau TN :29.13
Trước TN: 28.27 -6.66 4.37 -5.91 <0.001(*)

Chú thích: Có ý nghĩa ở mức α = 0.05

Theo bảng 2.4.11, ta thấy ở nhóm đối chứng kết quả trước và sau thực nghiệm không có sự khác biệt (sig = 0.068). Còn ở nhóm thực nghiệm, kết quả trước và sau TN có sự khác biệt rõ rệt (sig <0.001). Điều này cho phép ta khẳng định sự khác biệt ở hai lần đo là có ý nghĩa ở nhóm TN. Chứng tỏ rằng phương pháp thực nghiệm nhằm nâng cao tư duy trực quan sơ đồ cho trẻ là có tính khả thi. Để tính khả thi của thực nghiệm sư phạm có tính thuyết phục cao, người nghiên cứu đi sâu vào nghiên cứu từng bài tập riêng lẻ của bài trắc nghiệm ở hai nhóm ĐC và TN ở thời điểm trước TN và sau TN.

2.4.3.4. Kết quả điểm TB của 10 bài trắc nghiệm của hai nhóm ĐC và TN sau khi TN Ở nhóm ĐC điểm TB ở từng bài tập có sự dao động về điểm số nhưng sự dao động

này là không đáng kể (chỉ dao động từ 0 đến 0.4), điều này hoàn toàn ngẫu nhiên.

  • nhóm TN, ngoài bài tập 4 điểm số sau khi TN thấp hơn trước khi TN nhưng không đáng kể chỉ có 0.27 điểm thì tất cả các bài tập còn lại điểm số đều tăng. Nhưng ở đây, người nghiên cứu đặc biệt tập trung ở bài tập 7, 8, 9 và 10 vì để giải được các bài tập này đòi hỏi trẻ

phải biết dựa vào 2 dấu hiệu mà trước khi thực nghiệm hầu hết trẻ chưa thực hiện được. Sau khi TN, điểm số ở các bài tập 7, 8, 9,10 đều tăng, đặc biệt là bài tập 9 và 10 điểm số tăng khá lớn. Cụ thể: bài tập 7 điểm số sau TN tăng 0.94 (trước TN: 2.13; sau TN: 3.07); bài tập 8 điểm số sau TN tăng 0.27 (trước TN: 3.33; sau TN: 3.6); ở bài tập 9, điểm TB sau khi TN đã tăng lên 1.3 điểm (trước TN:1.33 điểm; sau TN: 2.93 điểm); ở bài tập 10, điểm TB sau khi TN đã tăng lên 1.2 điểm (trước TN: 2.13 điểm; sau TN: 3.33 điểm). Ngoài ra, ta thấy, điểm số ở bài tập 1 tăng đáng kể, chứng tỏ khả năng xác định hướng của trẻ đã chính xác hơn so với trước khi TN. Kết quả trên cho thấy tính phù hợp của bài thực nghiệm với trắc nghiệm Venger.

Sự khác biệt giữa điểm trắc nghiệm của nhóm TN trước và sau TN được thể hiện rõ ở biểu đồ 2.4.6 sau:

Điểm TB

Biểu đồ 2.4.6: Biểu đồ điểm trung bình trắc nghiệm của nhóm TN trước và sau TN

Để làm rõ kết luận trên, người nghiên cứu kiểm nghiệm t các bài tập của trắc nghiệm.

Bảng 2.4.12: Kết quả kiểm nghiệm t 10 bài tập trắc nghiệm của nhóm thực nghiệm

Hiệu số 2 điểm TB ĐLTC t Sig
Bài 1 trước TN -1.6 1.4 -4.43 .001(*)
Bài 1 sau TN
Bài 2 trước TN -.47 .64 -2.82 .014(*)
Bài 2 sau TN
Bài 3 trước TN .00 .75 .00 1.000
Bài 3 sau TN
Bài 4 trước TN .27 .7 1.47 .164
Bài 4 sau TN
Bài 5 trước TN -.2 .56 -1.38 .189
Bài 5 sau TN
Bài 6 trước TN -.67 1.11 -2.32 .036(*)
Bài 6 sau TN
Bài 7 trước TN -.93 1.03 -3.5 .004(*)
Bài 7 sau TN
Bài 8 trước TN -.27 .7 -1.47 .164
Bài 8 sau TN
Bài 9 trước TN Bài -1.6 1.35 -4.58 .000(*)
9 sau TN
Bài 10 trước TN -1.2 1.47 -3.15 .007(*)
Bài 10 sau TN

Chú thích (*): Có ý nghĩa ở mức α  = 0.05

Kết quả ở bảng 2.4.14 cho thấy, bài tập 3, 4, 5 và 8 điểm số khác biệt là không có ý nghĩa. Các bài tập còn lại bao gồm bài 1, 2, 6, 7, 9, 10 thì sự khác biệt về điểm số trước và sau thực nghiệm là có ý nghĩa. Sở dĩ các bài tập 3, 4, 5 và 8 không có sự khác biệt ý nghĩa là do nhóm trẻ được chọn làm thực nghiệm trước khi thực nghiệm thì tư duy trực quan sơ đồ của trẻ đã ở đầu mức độ 4, trẻ đã giải quyết được các bài tập mà chỉ cần dựa vào một dấu hiệu. Và nhóm trẻ trước khi được chọn làm thực nghiệm đã giải quyết khá tốt các bài tập 3, 4, 5, 8 và đạt được gần tối đa điểm số. Kết quả khác biệt có ý nghĩa về điểm số ở bài tập 1 và 2 có ý nghĩa là phù hợp so với kết quả trắc nghiệm ban đầu của trẻ vì trước khi thực nghiệm, trẻ chưa giải quyết tốt bài tập 1 và 2 nhưng sau khi thực nghiệm, trẻ đạt gần tối đa điểm số ở hai bài tập này

XEM TIẾP >>>

Theo: http://gianphoithongminhpro.org

Tải toàn bộ tài liệu tại link sau: >>>

nkkh_nghien_cuu_tu_duy_truc_quan_so_do_cua_tre_5_6_tuoi_o_mot_so_truong_mam_non_tai_thanh_pho_ho_chi_minh_4441

Chat Zalo
02485885585